Con trâu là đầu cơ nghiệp…

08:20 | 13/02/2021

“Trâu ơi ta bảo trâu này/ Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta”

Từ xa xưa, con trâu không chỉ gắn với công việc đồng áng mà đã đi vào cuộc sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam. Hình ảnh con trâu xuất hiện trong đồ dùng hàng ngày, trong các công trình kiến trúc, trong tín ngưỡng và lễ hội đình đám. 

Gắn liền với nền văn minh lúa nước

Kể từ thời đại vua Hùng dựng nước, con trâu trở thành một nhân tố cấu trúc hữu cơ của nền văn minh nông nghiệp lúa nước Việt Nam. Trong 15 bộ lạc hợp thành nước Văn Lang thời vua Hùng có hẳn một bộ lạc mang tên Trâu. Không những vậy, hàng trăm lưỡi cày đồng các loại thuộc nền văn hóa Đông Sơn (vào niên đại 500 năm trước Công Nguyên) tìm thấy ở Cổ Loa và nhiều nơi khác đã được giới khảo cổ học Việt Nam cày thực nghiệm bằng trâu kéo trên chín loại đồng đất khác nhau của miền châu thổ sông Hồng… Theo các nhà cổ nông học, ban đầu trâu được sử dụng để kéo gỗ, sau đó được lùa xuống ruộng giẫm cho đất lún thành bùn để dễ cấy như đồng bào Mường vẫn còn làm cách đây không lâu, sau đó mới dùng để kéo cày, bừa. Hay giữa đêm trường Bắc thuộc, sách Giao châu ký (thế kỷ 3) ghi lại hình ảnh trẻ mục đồng Việt Nam véo von thổi sáo trên lưng trâu trên đường thôn, ngõ xóm. Con trâu hiện diện trong tranh dân gian và điêu khắc gỗ đình làng.

Có thể nói rằng, con trâu đã cùng người Việt đi suốt chiều dài lịch sử mấy nghìn năm, trở thành một hình ảnh gắn bó tha thiết với làng mạc, ruộng đồng và cuộc đời một nắng hai sương của người nông dân. Đâu phải đã là xa xôi lắm, cảnh tượng đầy thương cảm khi người nông dân vì quá quẩn bách đành bán đi con trâu bấy lâu chia sẻ gian lao với mình để rồi ngày đêm quên ăn, quên ngủ, não một tiếng thở dài; còn con trâu thì dùng dằng bước ra khỏi chiếc chuồng tre quen thuộc, nước mắt ròng ròng.

Thời kỳ cuối thế kỷ 17, nhiều đình làng dựng lên vào thời gian này như đình Thổ Tang (Vĩnh Phúc) có cảnh con trâu kéo cày, đình Liên Hiệp (Hà Tây) lại chạm cảnh chọi trâu rất căng thẳng. Đến như tấm bia tiến sĩ ở Văn Miếu nghiêm trang là thế, nhưng cũng trang trí hình trâu trên diềm của tấm bia chạm năm 1653, đối diện với cảnh cầu hiền là cảnh cày tịch điền. Đây rõ ràng là biểu hiện của xã hội trọng nông mà con trâu là con vật số 1. Bởi vậy ông cha ta mới có câu “Con trâu là đầu cơ nghiệp”, mất trâu trở thành cái họa tày đình; điều này thể hiện trong câu ca dao Nam Trung Bộ: “Mất chồng như nậu mất trâu/Chạy lên, chạy xuống cái đầu chơm bơm…”.

Ở những ngày chưa xa ấy, thanh bình ở làng quê nước Việt là hình ảnh đàn trâu thảnh thơi gặm cỏ trên cánh đồng mùa gặt, tiếng sáo diều vi vút từng không hòa trong tiếng cười hồn nhiên của lũ trẻ mục đồng. Và nay, dù có công nghiệp hóa đến bao nhiêu, nhưng để phát triển nông nghiệp ở một tỉnh miền núi như Hà Giang, những ruộng bậc thang chỉ bằng một đường bừa, thì con trâu vẫn “lên ngôi”, vẫn là đầu cơ nghiệp trong mỗi gia đình nông dân và nếu muốn giải phóng con trâu, thì chỉ bằng cách không làm nông nghiệp nữa.

Tín ngưỡng văn hóa Việt Nam

Trong số những vĩ nhân làm nên vinh quang cho đất nước, không ít người vốn là chú bé chăn trâu tinh nghịch. Giữa thế kỷ thứ 10, sau khi Ngô Quyền mất (năm 944), nhà Ngô suy yếu, 12 sứ quân mỗi người nổi lên hùng cứ một phương, đất nước chia phân, dân tình điêu linh đồ thán; có một người hùng nổi lên ở Động Hoa Lư, dẹp yên phường nổi loạn, củng cố nền độc lập còn non trẻ của nước nhà, lên ngôi Hoàng đế đặt tên nước là Đại Cồ Việt. Người đó chính là Đinh Bộ Lĩnh, tức Đinh Tiên Hoàng Đế, vị Hoàng Đế thuở hàn vi vẫn cùng đám bạn chăn trâu, lấy bông lau làm cờ tập trận.

Rồi dưới thời Trần, sách Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề chép rằng: Yết Kiêu, người Gia Lộc (Hải Dương), một hôm đi trên bờ biển thấy hai con trâu nước chọi nhau. Ông dùng đòn gánh phang, trâu lặn xuống nước mất tích. Thấy trên đòn gánh còn dính vài sợi lông trâu, ông nuốt vào bụng, từ đó ông có tài bơi lặn, đi lại dưới nước như đi trên cạn! Hình sừng trâu gợi lên hình ảnh trăng lưỡi liềm và được dùng làm biểu tượng của Trăng. Huyền thoại trâu nước là huyền thoại về trăng và thủy triều, rất phổ biến cùng với tục thờ trăng, thờ Trâu ở miền ven biển Tây Thái Bình Dương.

Hay một huyền thoại của miền ven biển Việt Nam được ghi lại từ thế kỷ 6 trong sách Thủy kinh chú chép rằng: Huyện Câu Lậu ở Giao Chỉ có giống tiềm thủy ngưu (trâu ở ngầm đáy nước) chúng thường lên bờ chọi nhau, bao giờ sừng mềm ra lại nhảy xuống nước, sừng trâu sẽ cứng lại rồi chúng lại lên bờ chọi nhau tiếp. Đó là báo hiệu của ngày con nước theo lịch trăng. Trăng với thủy triều và giống trâu nước có liên quan về thời tiết. Ngày hội Trăng mùa thu ở vùng ven biển Đồ Sơn (Hải Phòng) trước đây còn giữ tục lệ thi chọi trâu “Dù ai buôn đâu bán đâu/ Mồng mười tháng Tám chọi trâu thì về!”. Chọi trâu là biểu tượng của xung lực vũ trụ. Chọi trâu được tổ chức hằng năm là để tái vận hành và tiếp sức sinh sôi nguồn xung lực, sinh lực của Trời – Đất – Con người…

Ở các địa phương như Hoằng Hóa, Nga Sơn (Thanh Hóa), Vĩnh Linh (Quảng Trị) thường có tục ăn tết Trâu và lễ tiến Xuân Ngưu (dâng trâu mùa xuân) lấy tháng Chạp là tháng Sửu. Con trâu thuộc hành thổ (đất). Theo thuyết ngũ hành tương khắc thì đất ngăn được nước (thổ khắc thủy), chống được cái rét nên cần làm con trâu đất để tống khí lạnh đi, cầu cho được mùa, cây cối xanh tốt. Trước Tết vài hôm, người ta tìm cỏ ngon, rơm được nắng để thưởng cho trâu ngày Tết. Chiều 30 Tết, trâu được tắm sạch sẽ, chuồng dọn sạch sẽ, máng chuẩn bị đầy cỏ voi, bắp cây, rơm… những món trâu thích ăn. Sáng mùng 1 Tết, trâu được dán một lá bùa trước trán để trừ tà yếm quái, xua đuổi vận hạn năm cũ. Một chiếc bàn con được đặt trước chuồng trâu với đồ lễ như bánh trưng bánh tét, gà, rượu… Gia chủ ăn mặc lịch sự, khấn nguyện trước chuồng trâu để cầu bình an, sức khỏe, trâu ăn tốt, cày khỏe. Sau khi cúng “Thần trâu”, đồ lễ sẽ được đút cho trâu ăn. Ngoài ra, người ta cũng chọn một ngành tốt lành để dắt trâu đi dạo thưởng xuân và ướm vai cày cho trâu để lấy may.

Một biểu tượng đẹp

Theo quan niệm phong thủy của người Việt, linh vật trâu tượng trưng cho sự an lành, phú quý và thịnh vượng. Với bản chất hiền lành, hòa đồng và chăm chỉ, hình ảnh con trâu gần gũi, thân mật với người dân trong nền văn minh lúa nước của Việt Nam và các nước Đông Nam Á. Trâu Vàng (còn gọi là Kim Ngưu) lại mang đến vẻ đẹp sang trọng khi chế tác với sắc vàng sáng bóng cùng ý nghĩa cát tường, may mắn. Trâu Vàng gắn với sự tích Hồ Tây của Thủ đô Hà Nội. Hình tượng Trâu Vàng đã từng là biểu tượng của Thể thao Việt Nam khi trở thành linh vật trong SEA Games 22 năm 2003. Trâu Vàng còn tượng trưng cho ước vọng về mùa màng tốt đẹp, ấm no, hạnh phúc, sức mạnh và tinh thần thượng võ của người Việt.

Con trâu gắn bó với nông thôn, đất nước ta đến vậy, nên con vật thân yêu này đã sớm đi vào nghệ thuật và trở thành một trong những hình tượng loài vật thể hiện sâu sắc tâm linh, tình cảm của người dân Việt, tạo nên sự gần gũi gắn bó của người với trâu. Nhưng có lẽ chính quá trình lao động bên nhau cùng những nét tương đồng về số phận, tính cách giữa người nông dân và con trâu mới là yếu tố quan trọng khiến cho trâu và người trở thành đôi bạn thân thiết, thủy chung. Con trâu hiền lành chăm chỉ, vất vả một nắng hai sương “làm không kịp thở, ăn chẳng kịp nhai” như người, trâu cũng thật thà, chất phác, chịu thiệt thòi do “trâu chậm uống nước đục”, trâu cũng vững chãi, mạnh mẽ như người, chỉ người có sức khỏe.

Sự gắn bó của người với con trâu còn được thể hiện rõ nét trong các dòng tranh Tết, đặc biệt là dòng tranh Đông Hồ như Cờ lau tập trận, Công việc nhà nông, Nghỉ ngơi sau buổi cày… Phổ biến nhất là cặp tranh xuất hiện trước năm 1945 và đã quá quen thuộc đối với gia đình nông dân, ngày nay lại quá quen thuộc đối với người Việt Nam, đó là cặp tranh “Em bé chăn trâu thả diều” và “Em bé chăn trâu thổi sáo”.

Tục ngữ có câu “Trâu bò chết để da, người ta chết để tiếng”. Thế nhưng trâu chết cũng để “tiếng”, nhưng đó là tiếng trống. Da trâu làm trống phải thuộc rất công phu, nhưng chỉ có da trâu cái chưa sanh đẻ mới tốt vì nó rất dai và cho tiếng kêu hay. Ngoài ra, đông y còn dùng da trâu như một loại dược liệu có tác dụng giảm đau, cầm máu.

Tóm lại, biểu tượng con trâu rất thích hợp với xu hướng phát triển “chậm mà chắc”, với xu hướng coi trọng những giá trị tinh thần làm nền tảng của đạo đức xã hội như hiền lành, hài hòa, chất phác, chăm chỉ, cần cù lao động, tình nghĩa thủy chung, kiên cường. Gốc có bền, cây mới vươn cao, nền móng có chắc chắn thì ngôi nhà mới vững chãi được. Dân giàu, nước mạnh; dân yên, nước vững bền. Đó là bài học giản dị, sâu sắc của cha ông mà đôi lúc nhiều người không nhớ.

Hoa Thiên

Tags:
Bình chọn bài viết:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài viết liên quan