Luật sư Việt Nam: 76 năm xứng đáng với lòng tin của người dân và xã hội

10:13 | 10/10/2021
Sắc lệnh 46/SL ngày 10/10/1945 trở thành một cột mốc quan trọng trong việc hình thành khái niệm quyền bào chữa và nghề luật sư của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Hơn một năm sau, vào năm 1946 Hiến pháp đầu tiên của nước ta ra đời, do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo thực hiện, Điều thứ 67 quy định: “Các phiên tòa án đều phải công khai, trừ những trường hợp đặc biệt. Người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mượn luật sư”.
Bác Hồ tiếp gia đình Luật sư Loseby.

Tiếp theo đó là Sắc lệnh số 163/SL ngày 23/3/1946 về tổ chức Tòa án binh cũng có quy định cho phép các bị cáo có quyền nhờ luật sư bào chữa. Tuy nhiên, trong một thời gian dài do hoàn cảnh chiến tranh mà vai trò của luật sư còn mờ nhạt trong đời sống xã hội. Nghề luật sư mới chỉ thực sự phát triển với sự ra đời Pháp lệnh luật sư 2001 và sau đó được thay thế bằng Luật Luật sư 2006. Như vậy, quyền bào chữa đã chính thức trở thành một nguyên tắc hiến định trong lĩnh vực tư pháp. Nguyên tắc ấy đã khẳng định vị trí, vai trò của người luật sư trong xã hội dân chủ pháp quyền với tính cách là người bảo vệ, trợ giúp pháp lý cho nhân dân, đồng thời thể chế hóa quyền bào chữa và nhờ người khác – luật sư – bào chữa cho mình.

Ở nước ta, quyền bào chữa của công dân và vai trò của luật sư ngày càng được nâng cao. Sau ngày độc lập, thống nhất đất nước, nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã lần lượt xác định quyền bào chữa và nghề luật sư. Hiến pháp năm 1980, Điều 133 quy định: “Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự  khác về mặt pháp lý”. Điều 132 Hiến pháp năm 1992 cũng nêu rõ: “Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình”.

Nhà nước ta lần lượt thể chế hóa, nâng cao vai trò của luật sư qua các văn bản quy phạm pháp luật từ thấp đến cao: Pháp lệnh Tổ chức luật sư ngày 18/12/1987 và Quy chế Đoàn Luật sư ban hành kèm theo Nghị định số 15/HĐBT ngày 12/2/1989 của Hội đồng Bộ trưởng đánh dấu sự đổi mới về tư duy pháp lý đối với nghề luật sư theo tinh thần Đại hội VI của Đảng (1986). Để tiếp tục hoàn thiện chế định luật sư, 12 năm sau, Pháp lệnh mới về luật sư được ban hành – Pháp lệnh Luật sư năm 2001 đưa chế định luật sư nước ta tiếp cận với chuẩn mực quốc tế, làm cơ sở cho việc hội nhập thế giới trong quá trình toàn cầu hóa. Sau 5 năm thi hành Pháp lệnh, Luật Luật sư năm 2006 thay thế Pháp lệnh Luật sư năm 2001.

Ngày 14/1/2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 149/QĐ-TTg lấy ngày 10/10 hàng năm là Ngày truyền thống của luật sư Việt Nam. Đây là sự kiện có ý nghĩa chính trị – xã hội rộng lớn ghi nhận sự quan tâm, hỗ trợ của Đảng, Nhà nước và cộng đồng xã hội đối với đội ngũ luật sư và nghề luật sư ở Việt Nam; đồng thời, ghi nhận sự trưởng thành lớn mạnh của đội ngũ luật sư và tổ chức xã hội – nghề nghiệp luật sư ở nước ta. Từ đó, nâng cao ý thức trách nhiệm của luật sư trong việc cung cấp các dịch vụ pháp lý có chất lượng cho cộng đồng xã hội, tạo lập niềm tin với Đảng, Nhà nước và xã hội; góp phần xây dựng, củng cố hình ảnh, địa vị pháp lý của luật sư và nghề luật sư trước cộng đồng xã hội.

Đội ngũ luật sư Việt Nam ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của cách mạng Việt Nam, lực lượng luật sư không ngừng lớn mạnh về số lượng cũng như tính chuyên nghiệp trong hoạt động hành nghề. Nhiều luật sư bằng tài năng, trí tuệ và nhân cách tốt đẹp của mình đã có những cống hiến xuất sắc cho việc xây dựng nền tư pháp công bằng, dân chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền như Phan Anh, Trần Công Tường, Nguyễn Hữu Thọ… và nhiều vị luật sư tiêu biểu khác. Nhiều luật sư hành nghề rất tâm huyết, tận tụy và công tâm với công việc. Có luật sư được công chúng tôn vinh là “luật sư của người nghèo”, đã tự nguyện bào chữa không nhận thù lao và còn dùng tiền cá nhân của mình để hỗ trợ cho việc đi lại của khách hàng là người dân nghèo. Những đóng góp đó đã từng bước tạo dựng hình ảnh và truyền thống tốt đẹp của đội ngũ luật sư Việt Nam.

Chủ tịch nước – luật sư Nguyễn Hữu Thọ với các chiến sĩ Quân giải phóng

Tính đến cuối năm 2020, cả nước có 15.107 luật sư, bình quân mỗi năm đoàn luật sư Việt Nam tăng gần 1000 luật sư mới. Trong đó, số lượng luật sư của Đoàn Luật sư TPHCM phát triển nhanh nhất trong cả nước, tính đến ngày 15/10/2020 số thành viên của Đoàn Luật sư TPHCM đã lên tới 6154 luật sư. Yêu cầu và thách thức hiện nay đặt lên vai giới luật sư một sứ mệnh: Vừa phải đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, vừa đáp ứng nhu cầu của xã hội, xứng đáng với lòng tin của người dân và xã hội.

Những năm qua, đội ngũ luật sư không chỉ tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong các vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh thương mại mà còn tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp. Có hàng tram doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nước ngoài, thậm trí cả các tổng công ty, tập đoàn nhà nước cũng cần sự trợ giúp pháp lý của luật sư ngày khẳng định vai trò và sự cần thiết của nghề trong cuộc sống. Bên cạnh việc trợ giúp pháp lý, không ít các luật sư trong quá trình hành nghề đã gặp phải những nguy hiểm vất vả để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ theo đúng quy định pháp luật. Điều đó đã góp phần tích cực trong việc phát huy quyền dân chủ cơ bản của công dân, bảo vệ quyền lợi chính đáng của công dân, đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ pháp luật, phục vụ tích cực công cuộc cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta.

Ngoài nhiệm vụ chính, các luật sư hiện nay rất tích cực trong các công tác đóng góp ý kiến cho các cấp, các ngành, cho nhà nước về xây dựng pháp luật, trong đó đặc biệt phải kể đến sự đóng góp vô cùng nhiệt huyết trong công tác lập pháp. Hiểu luật, biết luật nhưng quan trọng phải biết truyền tải cho người khác nghe, hiểu và tâm phục, khẩu phục. Nghề luật sư đòi hỏi thực tế và kinh nghiệm, phải đọc và biết suy luận. Phải nghe và quan sát người khác nói gì để từ đó đi sâu vào phản biện một cách thuyết phục từng vấn đề. Không chỉ có vậy, người luật sư phải có chức năng xã hội, luật sư cũng là một trí thức, ngoài những hoạt động nghề nghiệp thông thường, người trí thức phải phản ánh được tri thức của mình, thông qua việc đem tri thức ấy đóng góp cho xã hội. Bởi vậy, nếu người luật sư không có bản lĩnh, không có kiến thức pháp luật sâu rộng thì rất khó tồn tại với với nghề.

Ngoài ra, người luật sư hoạt động trong công tác pháp luật cần có những tư duy mang tính khai phóng. Thực tiễn có nhiều vấn đề pháp lý mới nảy sinh cũng như những hiện tượng xã hội, nhưng khoa học pháp lý chưa có lời giải thì nhiệm vụ của người luật sư phải khai mở ra những điều đó. Đặc biệt, trong giai đoạn hội nhập hiện nay, các tranh chấp thương mại giữa Chính phủ, doanh nghiệp Việt Nam với các đối tác chắc chắn sẽ phát sinh; Chính phủ, các doanh nghiệp sẽ trở thành một bên của tố tụng. Thực tế là việc giải quyết các tranh chấp quốc tế cũng đang phải nhờ vào các tổ chức luật sư nước ngoài khá nhiều. Vì vậy, việc nâng cao năng lực của giới luật sư Việt Nam để đáp ứng nhu cầu hội nhập luôn được Liên đoàn Luật sư Việt Nam đặt ra và giải quyết.

Đánh giá về vai trò và sứ mệnh của giới luật sư trong buổi làm việc với Liên đoàn Luật sư Việt Nam về khảo sát, tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp, đồng chí Phan Đình Trạc, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Nội chính Trung ương nhấn mạnh: “Môi trường thực tế thực hiện các quyền tố tụng của luật sư trong hành nghề theo quy định của các bộ luật tố tụng vẫn còn là một vấn đề đáng để mỗi luật sư lưu tâm. Môi trường ấy đang đặt ra trước chúng ta nhiều việc phải làm, trong đó phát huy vai trò, vị trí của luật sư và nghề luật sư, cũng như nâng cao nhận thức của những cơ quan, cá nhân nắm giữ quyền lực Nhà nước trong hoạt động tố tụng trong quan hệ với luật sư”.

Trên cơ sở đó, mỗi luật sư cần không ngừng học tập không ngừng để nâng cao kiến thức pháp luật trong nước và quốc tế, trình độ chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng hành nghề đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Thực hiện nghiêm túc các quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư, thực sự gương mẫu trong đấu tranh thực hiện pháp luật, đấu tranh không khoan nhượng với các biểu hiện tiêu cực, bảo vệ và nâng cao hình ảnh, uy tín, trách nhiệm của luật sư trước khách hàng và xã hội.

Các Đoàn Luật sư và các tổ chức hành nghề luật sư phải tăng cường quản lý, giám sát luật sư trong hoạt động nghề nghiệp, có giải pháp phù hợp hỗ trợ luật sư trong hoạt động nghề nghiệp, thực hiện tốt trách nhiệm việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của luật sư. Chú trọng công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp, ngăn ngừa các sai phạm. Xử lý nghiêm minh các luật sư vi phạm đạo đức nghề nghiệp, kiên quyết đưa ra khỏi đội ngũ những luật sư thoái hoá biến chất, lợi dụng hoạt động luật sư để thu lợi bất chính, xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Liên đoàn Luật sư Việt Nam cần tích cực thực hiện các quy định của Luật luật sư trong đó có các quy định liên quan đến nhiệm vụ của Luật sư. Trước mắt cần nghiên cứu hoàn thiện Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư, kịp thời bổ sung hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu của tình hình mới. Quan tâm công tác đào tạo bồi dưỡng, chuẩn bị kế hoach đào tạo luật sư sau năm 2020; Tiếp tục cùng Bộ Tư pháp và các cơ quan có liên quan thực hiện tốt Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Hai năm qua, mặc dù chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 nhưng Liên đoàn Luật sư Việt Nam vẫn duy trì và thiết lập quan hệ với các Hiệp hội, tổ chức luật sư quốc tế từ đó củng cố vị thế của giới luật sư Việt Nam trên trường quốc tế. Liên đoàn đã tích cực thực hiện các hoạt động hợp tác song phương và đa phương, duy trì quan hệ hợp tác với tổ chức luật sư các nước như Nhật Bản, CHLB Đức, Pháp, Hoa Kỳ, Liên bang Nga, Malaysia, Đan Mạch, Thụy Điển, EU (Dự án JPP); và các hiệp hội luật sư quốc tế với tư cách là thành viên như Hiệp hội Luật sư Châu Á Thái Bình Dương LAWASIA, Hiệp hội Luật sư quốc tế IBA, Hiệp hội Luật sư ASEAN…

Trải qua 76 năm hình thành, hoạt động với sứ mệnh bảo vệ công lý, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ngày nay đội ngũ luật sư Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, cung cấp các dịch vụ pháp lý cho cộng đồng xã hội ngày càng chất lượng, trở thành một trong những yếu tố không thể thiếu được của việc phát triển kinh tế tri thức và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam./.

Hoàng Minh

Bình chọn bài viết:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài viết liên quan