Nguồn lao động sau giãn cách – bài toán khó cho doanh nghiệp

14:59 | 16/09/2021
Gần 2,5 triệu lao động mất việc do tác động của dịch Covid-19, theo số liệu của cơ quan chức năng. Các doanh nghiệp lo ngại sẽ khó tuyển đủ lao động để tái khởi động sau thời giãn cách xã hội.

Cần chính sách hỗ trợ cho người lao động

Khảo sát online về thời gian bị mất việc làm của người lao động, Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV) thuộc Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ cho biết, trong số hơn 42.700 người bị mất việc làm (trên tổng số hơn 69 nghìn người tham gia khảo sát đến từ khối cơ quan nhà nước, cơ quan sự nghiệp, doanh nghiệp và lao động tự do), số bị mất việc từ 1- 3 tháng chiếm 50%. Số người mất việc dưới 1 tháng là 19%, số người mất việc trên 6 tháng là 15%.

Vậy nguồn tiền tích lũy của họ có thể đảm bảo được cuộc sống tối thiểu bao lâu? Câu trả lời là gần 50% số người lao động bị mất việc có nguồn tiền tích lũy chỉ đủ để đảm bảo cho cuộc sống dưới 1 tháng. Hơn 37% người lao động bị mất việc chỉ đủ đảm bảo cho cuộc sống dưới 3 tháng. Số có đủ tiền để trang trải cho cuộc sống dưới 6 tháng là 8,6% và chỉ có 4,4% số người lao động đã mất việc làm cho biết họ có nguồn tiền tích lũy đủ đảm bảo cho cuộc sống trên 6 tháng.

Bà Phạm Thị Ngọc Thủy, Giám đốc Văn phòng Ban IV cho biết, người lao động khi mất việc, có thể nhận được một hoặc nhiều nguồn hỗ trợ như từ gói hỗ trợ của Nhà nước, từ sự hỗ trợ tài chính của công ty nơi họ làm trước đây, sự trợ giúp của người thân/gia đình và sự trợ giúp của làng xóm/tổ chức nhân đạo.

Lãnh đạo Chính phủ và bộ ngành khảo sát chống dịch tại một doanh nghiệp thép ở Bình Dương. Ảnh: Anh Tuyên

Nhìn vào con số trên 42.700 người bị mất việc làm, thì có tới 45% trong số này phải dựa vào sự trợ giúp tài chính của người thân và gia đình. Tỷ lệ người mất việc nhận được sự trợ giúp từ làng xóm hoặc tổ chức từ thiện là 12%. Tỷ lệ lao động mất việc nhận được sự trợ giúp tài chính của công ty chỉ đạt hơn 5%. Con số về lao động mất việc do ảnh hưởng của dịch bệnh được tiếp cận với gói hỗ trợ của nhà nước là nhỏ nhất, chỉ đạt 2%. Nếu tính gộp cả những người nhận được bảo hiểm thất nghiệp khi mất việc thì con số này mới tăng lên được 3,5%. Đáng lưu tâm là số người lao động bị mất việc làm nhưng không nhận được sự trợ giúp chiếm tới 39,6%.

Một thực tế được Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân nêu lên thông qua kết quả khảo sát, đó là, Nhà nước có truyền thông về các gói hỗ trợ trên phương tiện thông tin đại chúng, tuy nhiên, số tiền thực sự đến được tay người lao động tự do mất việc/người nghèo quá ít. Hiện có rất nhiều người là lao động tự do, người kinh doanh, bán hàng bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch nhưng chưa nhận được tiền hỗ trợ.

Các cấp chính quyền nên có hình thức trợ cấp phù hợp, đúng đối tượng. Các gói hỗ trợ đối với công nhân nên thông qua các công ty để lên danh sách người được thụ hưởng do mất việc.

“Nhiều công nhân ở trọ không có địa chỉ tạm trú rõ ràng, bị mất việc và không rành về thủ tục nên không phải là đối tượng hỗ trợ, hoặc nếu muốn được hưởng hỗ trợ phải chứng minh bằng các giấy tờ với các yêu cầu xác nhận, trong khi đó, nhiều nơi thực hiện giãn cách, người lao động không đi lại được. Cần có công văn thông báo gửi cho doanh nghiệp, đồng thời cập nhật thông tin trên ứng dụng bảo hiểm xã hội điện tử để người lao động cùng nắm thông tin”, bà Thủy nhận định.

Giám đốc Văn phòng Ban IV chỉ ra rằng, hiện có rất nhiều doanh nghiệp trì trệ hoặc khó khăn trong khâu bổ sung hồ sơ nên các lao động tạm nghỉ việc chưa thể nhận được nguồn trợ cấp từ gói hỗ trợ của Chính phủ. Cần đơn giản hóa thủ tục cho mọi người dân có thể nhận được hỗ trợ, không phải chỉ những người lao động có bảo hiểm xã hội.

Bài toán khó cho doanh nghiệp

Đợt dịch Covid-19 lần 4 bùng phát, một công ty chế biến gỗ ở Bình Dương – nơi anh Nguyễn Văn Vinh (ngụ Đồng Tháp) làm việc – tạm thời đóng cửa. Đến nay, anh Vinh vẫn chưa tìm được việc làm khác, tuy vậy anh cũng không có ý định trở lại Bình Dương khi thời hạn giãn cách xã hội chấm dứt. Tâm lý lo sợ dịch bệnh vẫn chưa chấm dứt, cơ hội làm việc lâu dài cũng chưa rõ ràng là nguyên nhân chính khiến anh và rất nhiều lao động tại các tỉnh ĐBSCL do dự với việc quay lại.

Ở một diễn biến khác, các doanh nghiệp sản xuất tại TPHCM, Bình Dương đang vật lộn với bài toán tái khởi động sau dịch, và việc tuyển đủ nguồn lao động là một trong những vấn đề lớn nhất.

Ông Trần Như Tùng, Chủ tịch HĐQT Công ty CP dệt may- đầu tư – thương mại Thành Công (TCM), cho biết hiện tại TCM chỉ duy trì được 50% trong số hơn 6.500 lao động của công ty tại các tỉnh thành còn tiếp tục làm việc. Phân nửa số lao động tạm ngưng việc phải về quê, hoặc tìm công việc khác.

Ông Tùng cho rằng, để vận động phân nửa lao động ngưng việc đó quay lại sau giai đoạn giãn cách là rất khó. Thứ nhất, tâm lý người lao động còn lo sợ dịch bệnh vẫn chưa được kiểm soát triệt để. Thứ hai, khi dịch được kiểm soát tốt hơn thì tết âm lịch đã cận kề, thời gian làm việc không được dài, trong khi phải trang trải nhiều chi phí đi lại, ăn ở nên cũng không tích lũy được nhiều. Điều này khiến không ít lao động tìm những công việc tạm thời ở quê cho đến khi kết thúc năm nay.

“Với TCM, chúng tôi đã có những chính sách hỗ trợ tiền lương cơ bản cho lao động ngưng việc, nhưng khi tái khởi động thì cố lắm cũng chỉ tuyển được 80% người lao động so với trước khi dịch bệnh diễn ra”, ông Tùng nói.

Còn với những doanh nghiệp đóng cửa hoàn toàn, không có điều kiện hỗ trợ người lao động, việc tuyển lại được đủ 50% lao động là điều rất khó.

Ông Nguyễn Chí Trung, Chủ tịch HĐQT Công ty CP tập đoàn Gia Định (Bình Dương), cho biết công ty đã dừng mọi hoạt động sản xuất từ đầu tháng 6, toàn bộ 6.000 lao động của công ty đều mất việc. Rất nhiều người trong số lao động này đã về quê hoặc tìm kiếm công việc khác, việc tuyển lại đủ nguồn lao động để tái khởi động là gần như không thể.

Nguyên nhân chính là công ty đã chịu rất nhiều tổn thất về kinh tế bởi dịch Covid-19. Khách hàng đã rút toàn bộ đơn hàng trong quí 3. Khi tái khởi động, đơn hàng không có, công ty cũng không thể sử dụng chính sách tăng lương để thu hút nguồn lao động.

Theo Tổ công tác đặc biệt phòng chống dịch Covid-19 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tại các tỉnh phía Nam, tính đến cuối tháng 8-2021, tại các tỉnh, thành phía Nam đã có gần 2,5 triệu lao động trong các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh phải ngừng việc, chiếm 70% số lao động phải ngừng việc của cả nước.

TPHCM là một trong những địa phương có số doanh nghiệp phải tạm ngừng kinh doanh nhiều nhất trong giai đoạn 2016-2020 với trên 23.000 doanh nghiệp; hơn 625.000 người lao động ở các quận, huyện, thành phố Thủ Đức và các khu chế xuất, khu công nghiệp bị mất việc, ngừng việc.

Ông Phạm Xuân Hồng, Chủ tịch Hội Dệt may thêu đan TPHCM, cho rằng để giải quyết bài toán nguồn lao động các doanh nghiệp cần có chính sách tái khởi động từng bước để phù hợp với tình hình mới.

Trong bối cảnh dịch bệnh còn diễn biến khó lường, không nên tái khởi động một cách ồ ạt. Theo đó, với những doanh nghiệp vừa và nhỏ nên tái khởi động ở mức 30-50% so với trước dịch bệnh. Với những doanh nghiệp có tiềm lực lớn hơn thì khởi động ở mức 70% và còn phải cân nhắc về tình hình đơn hàng để tái khởi động một cách phù hợp.

Ngoài ra, ông Hồng còn cho rằng Nhà nước cần có những chính sách hỗ trợ thiết thực cho doanh nghiệp như giảm phí công đoàn, phí BHYT – BHXH, thuế VAT… để doanh nghiệp giảm bớt gánh nặng. Từ đó dồn nguồn lực để lo cho người lao động, đưa ra những chính sách lương bổng tốt hơn để thu hút người lao động trở lại làm việc sau giai đoạn giãn cách./.

Trọng Nghĩa

Bình chọn bài viết:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài viết liên quan