Sự sụp đổ tất yếu của chính quyền Sài Gòn

21:12 | 29/04/2021
Sự thất bại của Mỹ tại cuộc chiến tranh ở Việt Nam chính là sự thất bại của chính quyền Sài Gòn và ngược lại, sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn là minh chứng không thể bào chữa cho sự có mặt của Mỹ tại miền Nam Việt Nam. Bởi suy cho cùng lợi ích của chúng gắn liền với nhau, Mỹ dùng chính quyền Sài Gòn làm tay sai để thực hiện mưu đồ của mình, đồng thời, chính quyền Sài Gòn sử dụng viện trợ của Mỹ để duy trì sự sống, duy trì một chế độ phản động, bù nhìn.

Những khoản viện trợ khổng lồ

Năm 1954, lợi dụng thời cơ thực dân Pháp bại trận, Mỹ nhảy vào miền Nam thay Pháp dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm. Mỹ không dùng bộ máy cai trị trực tiếp và quân đội chiếm đóng theo chính sách thực dân kiểu cũ. Mỹ thông qua hệ thống cố vấn Mỹ từ trên xuống bằng quyền lực viện trợ quân sự – kinh tế, trực tiếp xây dựng và chỉ huy quân đội tay sai, đồng thời giúp chính quyền Sài Gòn tổ chức hệ thống kìm kẹp ở cơ sở để đàn áp các đảng phái cùng các lực lượng quân giải phóng, ráo riết đánh phá phong trào cách mạng ở miền Nam nước ta.

Quân lực của chính quyền Việt Nam Cộng hòa

Trong suốt 21 năm tham chiến tại Việt Nam, nguồn viện trợ của Mỹ đóng vai trò vô cùng lớn cho nhiệm vụ duy trì cuộc chiến, 2 khoản viện trợ chủ yếu là viện trợ kinh tế và viện trợ quân sự. Đây là công cụ cơ bản để tiến hành chiến tranh, mua chuộc tay sai và ràng buộc dân chúng bằng lợi ích vật chất, để thay thế cho sức hấp dẫn của lương tâm và lẽ phải. Theo thống kê, số viện trợ của Mỹ cho Sài Gòn trong 21 năm là 26 tỷ đôla. Đó là con số cao nhất của viện trợ Mỹ mà không có bất cứ nước nào khác trên thế giới nhận được kể từ sau đại chiến thế giới lần thứ II, số tiền viện trợ mỗi năm một tăng lên, đặc biệt là trong các chiến lược mới mà Mỹ đặt ra.

Trong “chiến tranh cục bộ” số quân Mỹ viện trợ cho chính quyền Sài Gòn là 550.000 quân và số tiền bình quân 73 triệu đô la mỗi ngày. Đến “Việt Nam hóa chiến tranh”, Nguyễn Văn Thiệu thực hiện các chính sách kinh tế – quân sự đều bằng tiền viện trợ của Mỹ, khiến viện trợ Mỹ tăng vọt lên gấp bội so với giai đoạn trước. Năm 1969 là 1,7 tỷ; năm 1970 gần 2 tỷ; năm 1971 là 2,5 tỷ; năm 1972 là 3 tỷ. Chỉ tính vốn đầu tư của hai năm 1971-1972 đã gấp hơn 10 lần tổng số vốn đầu tư của 10 năm trước đó, đây là con số kỷ lục, chưa bao giờ và cũng chưa nước nào được Mỹ viện trợ trong vòng 1 năm. Với số viện trợ khổng lồ đó, chính quyền Sài Gòn đã xây dựng một quân đội lớn mạnh chưa từng có, con số tính đến trước ngày giải phóng lên đến 1,1 triệu quân.

Tuy nhiên, chiếc lược “Việt Nam hóa chiến tranh” cũng không duy trì được bao lâu, ngày 27/1/1973 “Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam” được ký kết. Ngay sau ngày Hiệp định Paris chính thức có hiệu lực, Mỹ rút dần nguồn viện trợ rồi cắt hẳn, khiến các lĩnh vực chính trị – kinh tế – xã hội Sài Gòn – Gia Định dưới sự kiểm soát của chính quyền Sài Gòn trở nên tiêu điều, rối loạn và khó khăn trầm trọng.

Cụ thể, ngoại tệ giảm sút khiến hàng nhập cảng ít dần đi, việc sản xuất ở các xí nghiệp bị ngưng trệ, công nhân thiếu việc làm, thu nhập giảm sút: Làng dệt ở Ngã tư Bảy Hiền phải nghỉ dệt; Thương cảng ít tàu cập bến, công nhân bến cảng bị đuổi việc hàng loạt; Công nhân kỹ thuật PACIFIC bị thất nghiệp phải ra làm khuân vác với tiền lương giảm 50%… Tình trạng tăng thuế, lạm phát gia tăng khiến giá cả những mặt hàng cần thiết cho đời sống hàng ngày tăng từ 2 đến 10 lần, năm 1973 giá gạo tăng lên 100% so với năm 1972, giá đường tăng lên 165%, giá dầu đun tăng gấp 3 lần, giá xăng tăng 6 lần, giá phân bón, sợi, xi măng đều tăng từ 100% đến 200%, sản xuất nông nghiệp giảm 20%…

Các công trình công cộng từ y tế, văn hóa, giáo dục… đều ngưng lại, khi quân Mỹ bắt đầu rút đi nhiều, Mỹ thu hồi một loạt các phương tiện đã cấp cho chính quyền Sài Gòn. Hàng triệu người tại Sài Gòn – Gia Định vốn đã quen sống bằng những nghề dịch vụ, kinh doanh, phục vụ cho quân đội Mỹ bỗng mất đi nguồn thu nhập, trở nên thất nghiệp. Theo Bộ Kinh tế Sài Gòn, đến tháng 9/1973, miền Nam có hơn 2 triệu người thất nghiệp, mà 50% số này là ở Sài Gòn. 

Nguyễn Văn Thiệu đi thị sát một đơn vị quân đội Việt Nam Cộng hòa.

Tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh

Việc Mỹ cắt viện trợ chỉ là nguyên nhân trực tiếp khiến chính quyền Sài Gòn thất bại, còn về mặt bản chất, chính quyền Sài Gòn sụp đổ bởi tính chất phi nghĩa của cuộc chiến mà họ tiến hành, một chính quyền không phù hợp với văn hóa – xã hội – con người Việt Nam. Từ việc “cõng rắn cắn gà nhà”, mở cửa đón hơn 500.000 lính Mỹ và quân chư hầu vào tàn sát đồng bào, dày xéo đất nước, đến sự thối nát của bộ máy cai trị, một kiểu “dân chủ” nửa mùa, không thu phục được lòng người gây nên bao nỗi oán hận và mâu thuẫn trong lòng xã hội. Họ chẳng những không vì dân tộc mà còn đi ngược lại lợi ích dân tộc, chính vì những lý do đó, chính quyền Sài Gòn sụp đổ là điều tất yếu của lịch sử, không thể cứu vãn được.

Để đối phó với chính quyền tay sai của Mỹ, cách mạng miền Nam chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công. Đặc biệt, ngày 10/12/1960 Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam thành lập, đánh dấu một giai đoạn mới của cuộc kháng chiến, từng bước đẩy chế độ tay sai Ngô Đình Diệm đi đến sụp đổ và làm phá sản“chiến lược chiến tranh đặc biệt” của Mỹ. Sự có mặt của quân đội Mỹ và những yếu tố chính trị do Mỹ và chính quyền Sài Gòn tác động khiến đời sống xã hội – kinh tế của Sài Gòn – Gia Định và đất nước có những biến động to lớn.

Sau khi phục hồi những thiệt hại “Chiến tranh cục bộ” trong năm 1968, thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, Mỹ và chính quyền Sài Gòn tiến hành “bình định cấp tốc” lấn chiếm vùng nông thôn: ở đô thị ngụy quyền mở rộng cửa cho tư bản nước ngoài đầu tư vào miền Nam, dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế với quy mô lớn, kể cả các mặt kinh tế hậu chiến được dự báo đến năm 2000. Dù vậy, Mỹ vẫn thất bại trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Trong tình thế phải “xuống thang” rút quân viễn chinh về nước, nhưng vẫn muốn gây sức ép để đạt được kết quả có lợi trên bàn hội nghị Hiệp định Paris.

Thực hiện Hiệp định Paris, ngày 29/3/1973, Bộ Chỉ huy quân đội Mỹ tại Sài Gòn làm lễ cuốn cờ rút khỏi miền Nam Việt Nam. Mỹ và quân chư hầu rút, làm cho lực lượng quân đội giảm, bộ binh, pháo binh, thiết giáp giảm. Mỹ cũng cắt dần viện trợ, các lĩnh vực chính trị – kinh tế – xã hội Sài Gòn – Gia Định dưới sự kiểm soát của chính quyền Sài Gòn trở nên tiêu điều, rối loạn và đến gần hơn với bờ vực sụp đổ. Điều này Nguyễn Văn Thiệu đã từng công khai thú nhận: “Mỹ còn viện trợ thì chúng ta còn chống cộng”, “Nếu Hoa Kỳ không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau ba giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi dinh Ðộc Lập”!.

Sau khi Mỹ rút quân về nước và cắt nguồn viện trợ, những mâu thuẫn gay gắt bắt đầu nổi lên trong lòng chính quyền Sài Gòn. Trong quân đội thì nổi lên thế lực của tướng Nguyễn Cao Kỳ, cộng với lực lượng tôn giáo dưới bàn tay của Mỹ ngấm ngầm âm mưu lật đổ Nguyễn Văn Thiệu. Trên chính trường xuất hiện lực lượng tự xưng là “thực thể chánh trị thứ ba” gồm các thành phần đối lập với Nguyễn Văn Thiệu do tướng Dương Văn Minh cầm đầu có sự hậu thuẫn của tình báo Mỹ, không ngớt tuyên truyền, lôi kéo quần chúng chống đối, đòi thực hiện “trưng cầu dân ý” phế truất Nguyễn Văn Thiệu hòng nắm vũ đài chính trị miền Nam.

Với những áp lực, Nguyễn Văn Thiệu ra mặt đàn áp nhiều báo chí và các phe phái không ăn cánh (đóng cửa 5 tờ báo, giải tán 26 phe đảng), điều này cũng đã góp phần làm suy yếu chính quyền Sài Gòn, tạo thêm thuận lợi cho cách mạng. Cuối năm 1974, ở Sài Gòn có 30 tổ chức chính trị xã hội công khai ra tuyên bố chống Nguyễn Văn Thiệu, đòi tổng tuyển cử, đòi tự do dân chủ, đòi cải thiện đời sống; đáng chú ý trong phong trào đô thị có cả lực lượng thương phế binh của chính quyền Sài Gòn. Ngày 25/1/1975, có 18 đoàn thể thuộc nhiều khuynh hướng chính trị cùng kí bản kiến nghị đòi Mỹ chấm dứt viện trợ cho Nguyễn Văn Thiệu, đòi Thiệu từ chức. Ngày 1/2/1975, có 23 tổ chức tiến bộ công bố chung bản cáo trạng tố cáo “Thiệu là sản phẩm của chiến tranh, còn Thiệu là còn chiến tranh, Thiệu bán đứng Tổ quốc cho Mỹ”. Ngày 23/3/1975, Nguyễn Cao Kỳ và Trần Hữu Thành lập ra “Ủy ban cứu nguy dân tộc” đòi Nguyễn Văn Thiệu chuyển giao quyền hành.

Chính quyền Sài Gòn còn gây ra mâu thuẫn sâu sắc trong lòng dân, khi liên tục tăng cường bắt lính, bổ sung cho lực lượng quân sự. Nạn địch lùng sục, bắt lính diễn ra thường xuyên rất căng thẳng từ thành phố đến ven đô. Lính trốn và thanh niên trốn lính diễn ra hàng ngày. Theo báo cáo của Bộ Tổng Tham mưu quân đội Sài Gòn, tính đến ngày 15/1/1973, quân số quân đội Sài Gòn là 1.086.926 quân, năm 1973, quân số quân đội Sài Gòn luôn giữ ở mức trên 1.900.000 quân dù số đào ngũ hàng tháng nằm trong khoảng 6.000 – 15.000.

Tổng tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn Cao Văn Viên thừa nhận: “Quân đội Việt Nam Cộng hòa thực chất không phải là một thực thể độc lập, không có binh thuyết, không có chiến lược, vì việc điều khiển tất cả các hoạt động quân sự nằm trong tay người Mỹ”. Chuẩn tướng Tư lệnh Sư đoàn 25 Lý Tòng Bá thú nhận: “Khi trận đánh trở nên gay go, họ (quân Sài Gòn) không muốn chiến đấu nữa. Họ muốn dựa vào Mỹ, khi không có Mỹ, họ bỏ chạy. Đó là cái bệnh của quân đội Việt Nam Cộng hòa mắc phải”.

Xe tăng của Quân Giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập 

Sự chuẩn bị kỹ lượng của cách mạng miền Nam

Sau Hiệp định Paris, cùng với sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, lượng cách mạng miền Nam ngày càng mạnh, ở thế có lợi hơn địch. Từ sự bị động, sau Hiệp định Paris, quân ta giành lại thế chủ động, từ lúc lúng túng đối phó với chiến lược “tràn ngập lãnh thổ của địch”, ta đã dần ngăn chặn rồi chủ động phản công, tiến công tiêu diệt địch. Ngày 14 /4/1975 Bộ Chính trị phê chuẩn việc mở chiến dịch giải phóng Sài Gòn với tên gọi “Chiến dịch Hồ Chí Minh” cùng khí thế “Một ngày bằng 20 năm”, Quân giải phóng ngày càng tiến nhanh, tiến mạnh trên khắp chiến trường.

Thành ủy Sài Gòn – Gia Định ra Chỉ thị hướng dẫn những việc cần làm ngay và phát hành tài liệu hướng dẫn quần chúng hành động. Đồng thời, phân công lại các cánh hoạt động cho phù hợp với nhiệm vụ giải phóng. Tập trung xây dựng lực lượng cách mạng tinh nhuệ hơn với đủ mọi giai cấp, thành phần: Trung đoàn Quyết thắng được củng cố và bổ sung thêm một đại đội, đồng thời thành lập thêm Trung đoàn Đất thép. Lực lượng vũ trang toàn thành đã có 2 trung đoàn và 4 tiểu đoàn tập trung; mỗi quận, huyện trung bình có từ 1 đến 2 đại đội; gần 3.500 dân quân du kích; hàng ngàn tự vệ, du kích mật. Xây dựng được 40 lõm chính trị với hơn 7.000 quần chúng đã giành quyền làm chủ ở các mức độ khác nhau, 400 tổ chức với gần 25.000 quần chúng. Tổ chức hàng chục cơ sở in ấn và phát hành hàng triệu bản tài liệu, truyền đơn để phổ biến chính sách của Mặt trận và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam…

Trước nguy cơ Quân giải phóng tấn công Sài Gòn, ngày 21/4/1975, chính quyền Hoa Kỳ ép Nguyễn Văn Thiệu từ chức, nhường ghế cho Trần Văn Hương nhằm tìm khả năng đàm phán và đợi sự phê chuẩn viện trợ của Quốc hội Hoa Kỳ. Tận dụng thời cơ này, lực lượng cách mạng đồng loạt nổi dậy: Lực lượng vũ trang quận, huyện, địa phương phối hợp với Quân đoàn chủ lực tiến công tiêu diệt và làm cho địch tan rã tại chỗ. Nhân dân nổi dậy, treo cờ giải phóng tại trụ sở hành chính. Công nhân ở các nhà máy, xí nghiệp đứng lên làm chủ xưởng, hãng, kho hàng. Trong hai ngày 29 và 30/4, toàn thành phố có 107 điểm nổi dậy (31 điểm ở ngoại thành, 76 điểm ở nội thành) trước khi Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng.

Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện vào 11h30 ngày 30/4/1975

Vào giờ phút cuối cùng của chế độ Sài Gòn, Henri Kissinger đã phải đối diện với sự thật rằng: “Trong cái ngày mà chiếc máy bay cuối cùng rời khỏi nóc toà nhà đại sứ quán (Mỹ), chỉ có một cảm giác trống rỗng là còn lại. Những người trong số chúng tôi đã chiến đấu trong những trận chiến để tránh thảm hoạ, cuối cùng lại đang ở quá gần tấn bi kịch kiểm điểm lại lịch sử hai mươi năm dính líu của Mỹ. Và lúc này đã quá trễ để có thể thay đổi tiến trình các sự kiện”. Mỹ đã nuôi cả cái xã hội, nền kinh tế, quân sự của chính quyền Sài Gòn như một đứa trẻ bằng bầu sữa của viện trợ. Nhưng bầu sữa viện trợ Mỹ khác với bầu sữa mẹ, nó không giúp cho đứa trẻ đó khôn lớn lên để tự làm lấy mà ăn, tự tạo ra cơ nghiệp cho nó, thì việc đi đến sụp đổ là điều hiển nhiên và gần như đã được dự báo từ trước.

Nguyễn Hoàng

Tags:
Bình chọn bài viết:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài viết liên quan