Ý nghĩa tên gọi của Lệ Châu Hội Quán – Nhà thờ tổ nghề kim hoàn

10:50 | 21/01/2021
Nhiều ý kiến cho biết Hội quán Lệ Châu (quận 5, TP.HCM) có liên quan đến nơi thờ tổ nghề kim hoàn của cộng đồng người Hoa. Ý nghĩa của danh từ “Lệ Châu” cũng chưa được giải thích hợp lý cho nơi phụng thờ tổ sư của những nhà kim hoàn, thợ bạc tại thành phố.

Di tích tổ nghề kim hoàn Lệ Châu hội quán nằm ở số 586, đường Trần Hưng Đạo B, P.14, quận 5. Nhà thờ tổ được xây dựng và hoàn thành trong giai đoạn 1892-1896 bởi một nhóm thợ bạc, chủ lò kim hoàn người Việt, cùng nhiều sự góp công sức của các lò, hãng kim hoàn miền Tây và Đông Nam Bộ qua nhiều lần trùng tu. Ngày nay, nhà thờ tổ được hiểu là nơi thờ tổ nghề kim hoàn của cả cộng đồng người Việt và người Hoa.

Theo lịch sử nghề kim hoàn, nhà thờ tổ ban đầu dành tưởng niệm tam vị tổ sư nghề kim hoàn là Trần Hòa, Trần Điện và Trần Điền – ba anh em đã có công dạy nghề thợ bạc đầu tiên tại Chợ Lớn. Những tổ sư này thuộc đời thứ hai, theo sau nhị vị tổ sư thợ bạc đầu tiên là Cao Đình Độ (1744-1810) và Cao Đình Hương (1773-1821) tại Huế.

Bàn thờ Tổ sư Cao Đình Độ và Cao Đình Hương tại hội quán Lệ Châu. Ảnh: N.T

Trong Sài Gòn năm xưa (1960), Vương Hồng Sển cho biết: “Đường Nguyễn Trãi đi một đoạn khỏi đường Tổng Đốc Phương gặp chùa Lệ Châu. Đây là “chùa Tổ” thờ tổ sư của nhóm thợ và chủ lò kim hoàn. Sau những người Hoa kiều đồng nghề cũng nhập với đồng nghiệp Việt Nam nên mỗi năm cúng tổ long trọng và oai nghi lắm”. Tuy nhiên, ông cũng đặt nghi vấn rằng “phải chăng Bà Lệ Châu thờ làm tổ của những người thợ bạc thợ vàng Chợ Lớn?” khi nhắc đến địa danh cầu Bà Châu.

Nhiều giả thuyết về ý nghĩa được đề xuất cho danh từ Lệ Châu. Một là, tên hội quán xuất phát từ: “Kim trầm lệ thủy, ngân xuất châu đê” (vàng ẩn sông Lệ, bạc xuất bờ Châu) với giải thích chưa rõ ràng trong mối liên quan đến tổ sư Cao Đình Độ. Hai là, một người phụ nữ tên Lệ Châu là tổ sư nghề thợ bạc được người Hoa tôn sùng, sau đó tín ngưỡng này được dần thay thế và hợp nhất với tín ngưỡng chung của người Việt. Ngoài ra, Lệ Châu còn được hiểu là “nước mắt” của hậu bối nhớ thương những tổ nghề đã quá vãng năm xưa. Tuy nhiên, ý nghĩa của danh từ này vẫn còn bỏ ngỏ trong mối liên quan đến nơi thời tổ sư của những người thợ, nghệ nhân kim hoàn.

Sông Lệ Thủy, núi Châu Đề

Mỹ tự “Lệ Châu Hội quán” và kiến trúc xây dựng cho thấy công trình mang dấu ấn và gần gũi với những công trình tín ngưỡng người Hoa trong vùng. Nhà thờ tổ gồm ba tòa nhà và một sân thiên tĩnh phía sau chánh điện. Tòa thứ nhất là nơi hội hợp, bái đường trong ngày lễ; tòa thứ hai là thờ nhị vị tổ sư đời đầu, cùng các tổ sư đời thứ hai; tòa thứ ba là nơi phụng cúng những hội viên quá vãng (nghĩa từ). Có thể nói, Hội quán Lệ Châu có kiến trúc và phong cách mang đậm sắc thái văn hóa người Hoa.

Tại hội quán, một câu đối tiền diện khoán thủ hai chữ Lệ và Châu đã góp ý tưởng cho nguồn gốc tên gọi của di tích. “Lệ Thủy sinh kim cơ quốc thái – Châu Đề ngân xuất nghiệp dân an” (麗水金生基國泰 – 朱堤銀出業民安), nghĩa là: vàng có từ sông Lệ Thủy làm nền móng cho quốc gia hòa bình, bạc từ núi Châu Đề là nghề giúp dân yên ổn.

Câu đối khoán thủ danh từ Lệ Châu trước cổng hội quán. Ảnh: N.T

Sông Lệ Thủy và núi Châu Đề vốn là hai địa danh cổ xưa trong thư tịch Trung Hoa liên quan đến tính ưu việt của vàng và bạc được sản xuất ra ở tỉnh Vân Nam nước này. Trong sách Thiên Tự văn thích cú (của Chu Hưng Tự, 1858) có “Kim sanh Lệ thủy” trong “Kim sanh lệ thủy – Ngọc xuất côn cương” (金生丽水, 玉出昆岡). Hai câu này miêu tả sản phẩm vàng và ngọc từ Trung Quốc là những sản vật tự nhiên rất quý và rất hiếm. Vàng sinh ra ở sông Lệ Thủy, ngọc có từ núi Côn Lôn. “Lệ Thủy chi địa sanh lương kim”, nguồn vàng tốt nổi tiếng nhất ở Trung Quốc có từ dòng Lệ Thủy, tức Lệ Giang ở Vân Nam. Lệ Giang còn được gọi là sông Kim Sa từ thời cổ đại. Núi Châu Đề cũng nằm trong vùng sinh ra vàng này.

Trong quá khứ, Châu Đề có vị trí quan trọng trong tiền tệ và kinh tế quốc gia của Trung Hoa. Đây là một sơn danh, địa điểm có nhiều núi non dọc sông Kim Sa và Ngưu Lan. Ngày nay, địa danh này là khu đất thuộc 3 huyện Chiêu Thông, Lỗ Điện và Vĩnh Thiện của tỉnh Vân Nam, là nơi sản xuất ra nhiều bạc trắng chất lượng xứng tầm thế giới. Do đó, “Châu Đề ngân” là thuật ngữ để chỉ một loại bạc cổ chất lượng cao, bởi vì nó được sản xuất ở núi Châu Đề. Danh tiếng của “Châu Đề ngân” được nhắc đến trong nhiều tác phẩm văn học từ thời Đường-Tống đến thời Minh-Thanh.

Nguồn gốc về vàng từ sông Lệ Thủy, bạc từ núi Châu Đề có thể thấy rõ ở các câu đối lập lại tên hai địa danh này trong chánh điện. Điều này cho thấy chủ ý về nguồn gốc và ý nghĩa của tên Lệ Châu, nơi thờ tổ nghề thợ bạc:

Lệ Thủy kim sanh vạn cổ trường lưu quốc thái dân an vi chí bảo;
Châu Đề ngân xuất thiên niên hằng kết gia phong vật phụ thị kì trân.

hay

Lệ Thủy sản thiên tài lợi phổ đông tây viễn tiếp chân nguyên hàm đại hữu;
Châu Đề sanh quốc bảo nghĩa triêm nam bắc bí truyền xảo nghệ tụy đồng nhân.

Bên trong Hội quán Lệ Châu cùng hệ thống đối liễn. Ảnh: N.T

Ý nghĩa của danh từ Lệ Châu cho thấy vẻ tinh tế và tầm quan trọng mang tính ước lệ của nghề kim hoàn qua hình ảnh sông Lệ Thủy và núi Châu Đề. Hai địa danh mang tính biểu tượng biểu thị cho danh tiếng của nơi chế tác và sản xuất ra vàng và đồng bạc, đồng thời làm đại diện cho tinh thần chung về chất lượng sản phẩm vàng, bạc của những thợ lành nghề.

Hơn nữa, lịch sử nghề kim hoàn cho thấy tổ sư Cao Đình Độ (1744-1810) đã từng học hỏi kinh nghiệm và thu nhận tinh hoa chế tác từ những người thợ bạc Hoa kiều tại Thăng Long, sau đó được truyền đạt lại cho các cao đồ. Nữa đầu thế kỷ XIX, tam vị tổ sư đời thứ hai Trần Hòa, Trần Điện và Trần Điền từ Thăng Long xuôi về phương Nam và chọn Chợ Lớn làm nơi mở lò dạy nghề. Do đó, ý nghĩa mang tính biểu tượng cho nghề thợ bạc có nguồn gốc Trung Hoa cũng dễ dàng được tiếp thu và nhìn nhận trong đời sống tín ngưỡng chung của cộng đồng thợ nghề kim hoàn. Đồng thời, nơi thờ tổ nghề kim hoàn của cả người Việt và người Hoa cho thấy tính hội nhập và giao lưu văn hoá của người Hoa ở Việt Nam.

Hội quán từng thờ tổ nghề kim hoàn của người Hoa?

Tính đến nữa thế kỷ XX, mặc dù nắm vai trò kinh tế quan trọng trong nhiều lĩnh vực đời sống xã hội tại Sài Gòn – Chợ Lớn, nhưng đối với nghề chế tác và kinh doanh vàng thì vắng bóng các ông chủ và cơ sở nghề người Hoa. Điều này có thể hình dung qua những lĩnh vực kinh tế mà từng bang người Hoa nắm độc quyền và chiếm ưu thế. Mặc khác, những tín ngưỡng nghề nghiệp và sự thờ cúng cộng đồng cũng không xuất hiện một tổ nghề kim hoàn là nhân thần hay thiên thần trong tín ngưỡng của cộng đồng này.

Sắc phong của vua Khải Định năm thứ 9 cho nhị vị tổ sư Cao Đình Độ và Cao Đình Hương. Ảnh: N.T

Theo Thái Mao Quý trong Người Hoa ở miền Nam Việt Nam (1968), các bang của người Hoa hầu như không ai hoạt động về lĩnh vực kim hoàn. Người Quảng Đông chuyên về các cửa hàng tạp hóa (chạp phô), nắm chắc về kỹ nghệ may mặc, chúa tể ngành khách sạn và mở ra nhiều cơ sở nuôi vịt. Nghề chuyên môn lớn của người Triều Châu là buôn bán trà, độc quyền thương mại và chế biến cá khô, nhập khẩu thuốc Bắc và ưu thế trong kỹ nghệ làm đường, vận tải đường bộ. Nhóm Phúc Kiến độc quyền trong buôn bán ngũ cốc, có địa hạt vững chắc trong buôn bán sắt thép. Người Hẹ chuyên về thuốc Bắc, bánh mì được họ độc quyền từ nhập khẩu nguyên liệu làm bánh cho đến việc bán lẻ cho người dùng, và còn bá chủ trong ngành tơ sợi. Nhóm người Hải Nam thì nắm quyền khai thác các quán ăn cơm Tây, điều khiển các quán nhậu, hàng ăn bên đường. Một tín ngưỡng thờ tổ nghề nói chung hay tổ nghề kim hoàn nói riêng cũng không được nhắc đến trong nhiều đối tượng tín ngưỡng cộng đồng ở các hội quán của người Hoa tại Sài Gòn – Chợ Lớn.

Có thể khẳng định Hội quán Lệ Châu đã được khai sinh và duy trì trong một đời sống tín ngưỡng chung của cộng đồng người Hoa và người Việt. Không có người nào mang tên Lệ Châu là tổ nghề kim hoàn của người Hoa và không có một đối tượng tổ nghề kim hoàn riêng được người Hoa thờ cúng tại Hội quán. Một lần nữa, việc xây dựng hội quán Lệ Châu ngay từ những ngày đầu làm nơi thờ tổ nghề của cộng đồng thợ bạc Việt Nam cho thấy tính ưu thế vượt trội về kỹ nghệ chế tác của người thợ Việt Nam tại Sài Gòn – Chợ Lớn từ giữa thế kỷ XIX. Đồng thời, tín ngưỡng thờ tổ nghề thợ bạc tại Hội quán, cũng như ý nghĩa tên gọi của nó, phản ánh mối giao lưu văn hóa Việt – Hoa trong đời sống tín ngưỡng chung của những người chung ngành nghề.

Nhất Tuệ

Bình chọn bài viết:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài viết liên quan